tam trang | giam beo | thiet bi spa, thiet bi lam dep |
 
Rối loạn cảm xúc lưỡng cực

Tóm tắt luận văn tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa II

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RỐI LOẠN CẢM XÚC LƯỠNG CỰC

Bác sỹ CK II Ngô Hùng Lâm

 

Đặt vấn đề: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực là một rối loạn tâm thần thường gặp. Chẩn đoán sớm và phòng ngừa sự tái phát bệnh là hết sức quan trọng.

Mục tiêu: 1. Nghiên cứu  đặc điểm lâm sàng rối loạn cảm xúc lưỡng cực. 2. Tìm hiểu những yếu  tố liên quan đến tái phát rối loạn cảm xúc lưỡng cực.  Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang ở 74 bệnh nhân rối loạn cảm xúc lưỡng cực được điều trị nội trú tại Viện sức khoẻ Tâm thần và Bệnh viện Tâm thần Hà Nội từ 4/2006 - 7/2007 theo tiêu chuẩn chẩn đoán ICD10.

 

Kết quả: Tuổi khởi phát trước 20 tuổi là 40,5%. Giai đoạn hưng cảm: Các triệuchứng biểu hiện sớm thường gặp là rối loạn giấc ngủ (90,9%), tăng hoạt động (75,7%). Triệu chứng toàn phát giai đoạn hưng cảm thường gặp chủ yếu là hoang tưởng tự cao (83,2%), nhiều ý tưởng (75,7%) rối loạn hành vi (63,6%). Giai đoạn trầm cảm: Các triệu chứng biểu hiện sớm là giảm tập trung chú ý (71,4%), mệt mỏi, suy nhược (42,8%). Giai đoạn toàn phát với mất quan tâm thích thú (71,4%), rối loạn giấc ngủ (100%), giảm ngon miệng (85,7%). Một số yếu tố liên quan đến tái phát: Các sang chấn (18,9%), tiền sử có người thân mắc bệnh tâm thần (18,9%), lạm dụng rượu (14,9%), bệnh lý cơ thể (5,4%), người thân mất (2,7%). Kết luận: Đặc điểm lâm sàng của rối loạn cảm xúc lưỡng cực là những giai đoạn hưng cảm xen kẽ giai đoạn  trầm cảm. Các yếu tố liên quan đến tái phát bệnh là sang chấn tâm lý, tiền sử gia đình có người thân rối loạn tâm thần, lạm dụng rượu, bệnh cơ thể và người thân mất.

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ.

Rối loạn cảm xúc là một bệnh phổ biến, đứng hàng thứ hai trong các rối loạn tâm thần. ở các nước châu Âu, châu Mỹ tỷ lệ rối loạn cảm xúc chiếm trên 10% trong dân số. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực (RLCXLC) rất thường gặp trong các hình thái rối loạn cảm xúc. Ở Los Angeles, theo Karno và cộng sự (1987) tỷ lệ rối loạn cảm xúc lưỡng cực là 1%. Tại New Zealand, Wells và cộng sự (1989) cho thấy tỷ lệ RLCXLC là 0,7%. Nghiên cứu tại Hàn quốc, Lee và cộng sự (1990) đã đưa ra tỷ lệ rối loạn lưỡng cực là 0,4% [9].

Theo Trịnh Ngọc Tuân (2002), tỷ lệ bệnh nhân rối loạn cảm xúc lưỡng cực được điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần năm 2001 khoảng 8,7% tổng số bệnh nhân được điều trị nội trú [3].

RLCXLC có khuynh hướng tái phát, thời kỳ thuyên giảm ngắn dần, người bệnh thường gặp nhiều khó khăn trong học tập, lao động, rối loạn khả năng thích ứng, bệnh nhân dần dần tách rời xã hội, chất lượng cuộc sống bị giảm sút sau mỗi giai đoạn tái phát đặc biệt là trầm cảm.

Do tính chất phổ biến, mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng đối với cuộc sống, gia đình, nghề nghiệp xã hội của bệnh nhân, RLCXLC đã trở thành vấn đề lớn ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và là một vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực về hình thái lâm sàng, chẩn đoán, điều trị và nguy cơ tái phát.

Tuy nhiên cho đến nay ở nước ta vẫn chưa có nghiên cứu nào về dịch tễ cũng như đặc điểm lâm sàng của RLCXLC, mới chỉ có một vài nghiên cứu một số thể bệnh trong RLCXLC. Do vậy, với mong muốn nhận thức toàn bộ bệnh cảnh lâm sàng, hình thái tiến triển của bệnh lý này một cách hệ thống, chúng tôi chọn vấn đề “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn cảm xúc lưỡng cực.Với mục tiêu nghiên cứu:

1. Mô tả đặc điểm  lâm sàng của rối loạn cảm xúc lưỡng cực.

2. Nhận xét về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tái phát rối loạn cảm xúc lưỡng cực.

 

II. ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

2.1. Đối tuợng nghiên cứu

Nghiên cứu gồm 74 bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn cảm xúc lưỡng cực theo tiêu chuẩn ICD-10F (1992) được điều trị nội trú  tại Viện sức khoẻ Tâm thần bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Tâm thần Hà Nội từ 4/2006 đến  7/2007.

Loại trừ những bệnh nhân: Trầm cảm sau phân liệt. Rối loạn cảm xúc do căn nguyên thực tổn, nghiện chất. Rối loạn phân liệt cảm xúc loại hưng cảm, trầm cảm hoặc hỗn hợp.

2.2. Phương pháp nghiên cứu.

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có sử dụng công cụ sàng lọc Mood Disorder Questionnaire (MDQ) phát hiện  bệnh khi khám bệnh và test Beck làm công cụ trắc nghiệm trợ giúp chẩn đoán, theo dõi tiến triển của bệnh.

Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê Epi-info 6.04.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

3.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu:

-  Nhóm tuổi từ 30 - 39 có tỷ lệ cao nhất (35,1%). Dưới 20 tuổi và trên 50 tuổi: cùng 10,8%.

-  Nam giới chiếm 36,5%, nữ là 63,5%. Trình độ tiểu học: 5,4%, trung học cơ sở: 35,1%.

-  Tỷ lệ bệnh nhân là viên chức 24,3%,  công nhân và cán bộ nghỉ hưu đều chiếm 5,4%.

- Chưa kết hôn: 55,4%. Đã kết hôn là 44,6%, trong đó: ly hôn 18,2%. goá 9,1%. Ly thân 3,0%.

3.2. Đặc điểm lâm sàng chung

3.2.1. Tuổi phát bệnh.

* Tuổi giới phát bệnh lần đầu:

- Tuổi phát bệnh lần đầu chủ yếu ở lứa tuổi trước 20 là 40,5%, 50 chỉ có 1 trường hợp cho mỗi giới, chiếm tỷ lệ 2,7%.

- Tuổi trung bình phát bệnh lần đầu là 25,0 ± 10,1. Nam / nữ (28,8 ± 9,4 và 22,8 ± 9,9).

- Có tới 53/74 bệnh nhân (71,6%) phát bệnh lần đầu ở lứa tuổi trước 30.

* Tuổi giới tái phát bệnh lần thứ hai:

- Tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 20 đến 29 cả hai giới nam và nữ  chiếm 33,3% và 55,3%.

- Tuổi trung bình tái phát lần hai là 29,19 ± 11,2.

3.2.2. Số cơn đã mắc.

- Tính tới thời điểm nghiên cứu các bệnh nhân RLCXLC mắc 3 cơn là nhiều nhất chiếm 31,1%.

- Số bệnh nhân trải qua 4 giai đoạn bệnh là 20,3%, 2 giai đoạn bệnh gặp 13,4%, mắc trên 5 lần: 17,6%. Trung bình số cơn đã mắc: 3,01 ± 1,76. Số cơn hưng cảm trung bình: 2,51 ± 1,58.

- Các giai đoạn trầm cảm trung bình là 1,48 ± 0,77.

3.2.3. Đặc điểm giai đoạn khởi phát.

- Tỷ lệ khởi phát bệnh bằng một giai đoạn HC chiếm 70,3%, có sự khác biệt giữa hai giới song không có ý nghĩa thống kê.

- Giai đoạn trầm cảm chiếm 29,7%, nữ 31,9% cao hơn nam 25,9%. Tuy nhiên sự khác biệt này là không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

3.2.4. Ý tưởng và hành vi tự sát.

- Trong 4 bệnh nhân có ý tưởng và hành vi tự sát có 02 bệnh nhân tự sát bằng thuốc. Mỗi bệnh nhân chỉ có hành vi tự sát một lần, tất cả các trường hợp này đều xảy ra ở giai đoạn trầm cảm trong quá khứ.

- Chỉ có 01 trường hợp có ý tưởng tự sát nhưng chưa có hành vi tự sát.

 

3.3. Đặc điểm lâm sàng của RLCXLC giai đoạn hưng cảm.

3.3.1. Các triệu chứng khởi phát

Bảng 3.1.  So sánh các triệu chứng báo hiệu khởi phát giai đoạn hưng cảm có loạn thần và không có loạn thần.

Triệu chứng

 

HC có loạn thần (n=45)

HC không loạn thần (n=21)

Tổng số

(n= 66)

n

%

n

%

n

%

Giảm nhu cầu ngủ

45

100,0

21

100,0

66

100,0

Khó đi vào giấc ngủ

43

95,5

17

80,9

60

90,9

Mất ngủ dai dẳng

8

17,7

6

28,5

14

21,2

Khí sắc tăng

36

80,0

14

66,6

48

72,7

Ham muốn thích thú tăng

9

20,0

5

23,8

14

21,2

Nhiều kế hoạch, sáng kiến

29

64,4

11

52,3

40

60,6

Tăng hoạt động

35

77,7

15

71,4

50

75,7

Cảm giác thoải mái, lạc quan

33

73,3

12

57,1

45

68,1

Khó đi vào giấc ngủ gặp 90,9% số bệnh nhân, triệu chứng này thấy nhiều ở các bệnh nhân hưng cảm có loạn thần so với hưng cảm không có loạn thần (95,5% và 80,9%).

3.3.2. Các triệu chứng ở giai đoạn toàn phát của giai đoạn hưng cảm.

3.3.2.1. Các rối loạn cảm xúc, hoạt động.

Bảng 3.2.  So sánh các triệu chứng HC có loạn thần và không có loạn thần giai đoạn toàn phát.

Triệu chứng

 

HC có loạn thần (n=45)

HC không loạn thần (n=21)

Tổng số

(n=66)

n

%

n

%

n

%

Khoái cảm

17

37,8

12

57,1

29

43,9

Nhiều ý tưởng

35

77,8

15

71,4

50

75,7

Nói nhiều, không cưỡng được

30

66,7

9

42,8

39

59,1

Nói có vần điệu, chơi chữ

13

28,9

4

19,0

17

25,7

Can thiệp vào việc người khác

30

66,7

9

42,9

39

59,1

Hành vi gây rối, bạo lực

12

26,7

3

14,3

15

22,7

Mua bán chi tiêu nhiều

28

62,2

12

57,1

40

60,6

Trang phục sặc sỡ

8

17,8

4

19,0

12

18,2

Nhẩy múa

20

44,4

5

23,8

25

37,9

Làm ồn ào, náo nhiệt

32

71,1

10

47,6

42

63,6

Liên hệ với bạn cũ

21

46,7

9

42,9

30

45,5

Kịch tính, phô trương

10

22,2

2

9,5

12

18,2

Kém kiềm chế

24

53,3

5

23,8

29

43,9

Phần lớn các bệnh nhân có biểu hiện nhiều ý tưởng, liên tưởng nhanh ở cả hai nhóm hưng cảm có loạn thần và hưng cảm không có loạn thần (75,7%).

3.3.2.2. Các rối loạn loạn thần.

Bảng 3.3. Hoang tưởng, ảo giác ở bệnh nhân hưng cảm có loạn thần (n=45).

Hoang tưởng

n

%

Hoang tưởng bị hại

07

15,6

Hoang tưởng bị theo dõi

04

8,9

Hoang tưởng được yêu

04

8,9

Hoang tưởng tự cao, phát minh

37

83,2

ảo thanh tiếng nói không rõ nội dung

2

4,4

ảo thanh khen ngợi

5

11,2

ảo thanh bình phẩm

4

8,8

Các triệu chứng loạn thần chủ yếu là hoang tưởng tự cao, phát minh chiếm 83,2%.

3.3.2.4. Thời gian ổn định.

Hưng cảm có loạn thần và không có triệu chứng loạn thần với thời gian ổn định giữa các giai đoạn bệnh lần thứ nhất đến lần thứ ba có sự rút ngắn rõ rệt (4,13 ± 3,12 và 2,23 ± 1,38).

Thời gian ổn định giữa hai nhóm không có sự khác biệt với p > 0,05.

3.4. Đặc điểm lâm sàng RLCXLC hiện tại giai đoạn trầm cảm.

3.4.1. Các biểu hiện khởi phát.

- Khó tập trung chú ý là triệu chứng hay gặp nhất chiếm 5 trong 7 BN trong thời kỳ nằm viện.

- Buồn rầu, khí sắc giảm, giảm hoạt động đều gặp 3/7 bệnh nhân ở giai đoạn trầm cảm.

3.4.2. Các triệu chứng ở giai đoạn toàn phát của RLCXLC giai đoạn trầm cảm.

* Các triệu chứng đặc trưng, phổ biến của giai đoạn trầm cảm.

Bảng 3.4.  Các triệu chứng hiện tại giai đoạn trầm cảm.

Triệu chứng (n = 7)

n

Khí sắc trầm

5/7

Mất mọi quan tâm thích thú

5/7

Giảm năng lượng, tăng mệt mỏi

6/7

Giảm tập trung chú ý

7/7

Giảm tự trọng

7/7

ý tưởng bị tội

2/7

ý tưởng không xứng đáng

1/7

Bi quan về tương lai

3/7

Giảm ngon miệng

6/7

Mất ngủ

7/7

Lo âu

5/7

Rối loạn giấc ngủ gặp ở tất cả các bệnh nhân.

3.5. Các yếu tố liên quan đến tái phát bệnh.

3.5.1. Thời gian ổn định theo thể bệnh.

- Giai đoạn HC nhẹ có thời gian ổn định kéo dài nhất: 7- 8 năm. Giai đoạn hỗn hợp là 1 năm.

- Trung bình thời gian ổn định ngắn dần từ 4,82 năm lần thứ nhất tới 2,19 năm ở lần thứ ba.

3.5.2. Các yếu tố liên quan tới tái phát bệnh ở giai đoạn nghiên cứu.

Biểu đồ 3.1. Các yếu tố liên quan.

Điều trị không đều chiếm tới 79,7%. Học tập, làm việc căng thẳng chiếm 18,9%.

3.5.3. Tiền sử gia đình có bệnh tâm thần.

Bảng 3.5. Mối liên quan với gia đình có người bị rối loạn tâm thần.

Chẩn đoán

n

%

RLCX

2

2,7

TTPL

3

4,1

Loạn thần khác

9

12,1

Tổng số

14

18,9

Các rối loạn tâm thần khác chiếm 12,1%. Rối loạn cảm xúc là 2,7%.

 

IV. BÀN LUẬN

4.1 Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

Tuổi trung bình là 33,4 ± 12,18 tuổi. Đây là độ tuổi lao động. Bệnh nhân nam chiếm tỷ lệ 36,5%, nữ chiếm 63,5%. Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả [7] là RLCXLC gặp nhiều ở nữ so với nam với tỷ lệ 2/1.

Tỷ lệ bệnh nhân gặp ở mọi trình độ văn hoá là tương tự như nhau, không có sự khác biệt, là học sinh, sinh viên tương đối cao (16,2%), cán bộ viên chức (24,3%), nông dân 12,2%, công nhân chỉ gặp 4 trường hợp (5,4%). Tỷ lệ bệnh nhân buôn bán là 17,6%, làm nội trợ 10,8%. 55,4% bệnh nhân chưa có gia đình. Trong số 33 tường hợp đã có gia đình, có 6 trường hợp ly hôn chiếm tỷ lệ 18,2%, trong đó 2/6 trường hợp là nam và 4/6 là nữ, các trường hợp ly hôn đều đang ở độ tuổi 30 - 40, tỷ lệ này cao hơn rõ rệt so với trong dân số. Kết quả này cho thấy có thể bệnh nhân bị bệnh là nguyên nhân dẫn tới rạn nứt cấu trúc gia đình, tăng tỷ lệ ly thân, ly hôn.

4.2. Đặc điểm lâm sàng chung

4.2.1. Tuổi phát bệnh.

Tuổi phát bệnh lần đầu chủ yếu ở lứa tuổi trước 20, trong đó ở nữ cao hơn nam (51,1% so với 22,3%). Có tới 53/74 bệnh nhân (71,6%) phát bệnh lần đầu ở lứa tuổi trước 30. Tuổi càng cao khởi phát bệnh giữa hai giới là tương đương nhau. Theo Weissmann và cộng sự (1988), tuổi trung bình của RLCXLC là 21 tuổi [8].

Sự phân bố tuổi, giới phát bệnh lần hai cho thấy thời điểm phát bệnh tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 20 đến 29 tuổi cả hai giới nam và nữ  chiếm tỷ lệ 33,3% và 55,3%. Tỷ lệ này giảm dần khi tuổi càng cao, nhóm trên 50 tuổi chỉ gặp 6,4% ở nữ  và 3,7% ở nam. Tuổi trung bình tái phát lần hai là 29,19 ± 11,2. So với tuổi trung bình phát bệnh lần đầu, thời gian ổn định lần đầu là 4,19 năm.

4.2.3. Số cơn đã mắc.

Nghiên cứu cho thấy số bệnh nhân mắc 4 cơn là 20,3%, những bệnh nhân mắc hai cơn chỉ gặp 13,5%, số đã mắc trên 5 cơn chiếm tới 17,6%. Trung bình số cơn đã mắc đến thời điểm nghiên cứu là 3,01 ± 1,76. Các bệnh nhân RLCXLC đã mắc 3 cơn là nhiều nhất chiếm 31,1%. Số mắc từ 4 cơn trở lên là 41 bệnh nhân (55,5%), điều này cho thấy điểm đặc trưng của RLCXLC là tái phát theo chu kỳ, giữa các giai đoạn là thời gian ổn định, bệnh nhân vẫn có thể học tập và công tác được. Trung bình số các giai đoạn hưng cảm là 2,38 ± 1,58. Các giai đoạn trầm cảm 1,48 ± 0,77 cơn, như vậy tần suất xuất hiện cơn hưng cảm nhiều hơn so với cơn trầm cảm. Chỉ có 25 trường hợp có giai đoạn trầm cảm và hưng cảm xen kẽ.

4.2.4. Đặc điểm giai đoạn khởi phát.

Tỷ lệ khởi phát bệnh bằng một giai đoạn hưng cảm chiếm 70,3%. ở cả hai giới biểu hiện khởi phát bệnh bằng một giai đoạn hưng cảm là chủ yếu (74,1% và 68,1%), tuy nhiên sự khác biệt này là không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05, tỷ lệ khởi phát bằng một giai đoạn trầm cảm là 29,7% không có sự khác biệt rõ rệt giữa hai giới (31,9% ở nữ so với 25,9% ở nam).

Điều này có thể được giải thích là hội chứng hưng cảm dễ được nhận biết và hội chứng trầm cảm dễ bị bỏ qua vì gia đình bệnh nhân thường cho rằng đó chỉ là các biểu hiện phản ứng cảm xúc bình thường trước các sự kiện trong cuộc sống gây stress.

4.2.5. ý tưởng và hành vi tự sát.

Các bệnh nhân có ý tưởng tự sát gặp ở 5/25 bệnh nhân (20%) trong đó có 4 bệnh nhân có hành vi tự sát, các ý tưởng và hành vi tự sát đều ở giai đoạn trầm cảm trong tiền sử. Các bệnh nhân RLCXLC giai đoạn trầm cảm có các biểu hiện ý tưởng và hành vi tự sát với các hành vi tự sát rất đa dạng như: uống thuốc sâu 2 trường hợp, thắt cổ, dùng dao cắt mạch máu cổ tay gặp 1 trường hợp cho mỗi loại. Từ những ý tưởng tự sát luôn thôi thúc dẫn đến hành vi tự sát. Bệnh nhân có thể thực hiện hành vi tự sát bất kỳ lúc nào và khó lường trước được. Điều này cho thấy tự sát là một triệu chứng thường gặp và rất nguy hiểm, là nguyên nhân gây tử vong ở bệnh nhân RLCXLC.

4.3. Đặc điểm lâm sàng của RLCXLC giai đoạn hưng cảm.

4.3.1. Các triệu chứng khởi phát

ở giai đoạn khởi phát, tất cả các bệnh nhân (100%) hưng cảm có các triệu chứng loạn thần và không có triệu chứng loạn thần có biểu hiện giảm nhu cầu ngủ. Như vậy triệu chứng giảm nhu cầu ngủ là dấu hiệu sớm ở giai đoạn này, kèm theo là tăng hoạt động 75,7%, khí sắc tăng 72,7% (bảng 3.1). Đây chính là các triệu chứng đặc trưng của một giai đoạn hưng cảm. Khi theo dõi các bệnh nhân RLCXLC tại cộng đồng, nếu bệnh nhân xuất hiện một hoặc nhiều các triệu chứng: mất ngủ, chứng tỏ nguy cơ tái phát một giai đoạn hưng cảm.

4.3.2. Các triệu chứng ở giai đoạn toàn phát của giai đoạn hưng cảm.

4.3.2.1. Các rối loạn cảm xúc, hoạt động.

Các triệu chứng thường gặp giai đoạn toàn phát của RLCXLC giai đoạn hưng cảm trong nghiên cứu của chúng tôi (Bảng 3.2) là bệnh nhân có nhiều ý tưởng chiếm 75,7%, làm ồn ào náo nhiệt 63,6%, mua bán chi tiêu nhiều 60,6%. Đây là triệu chứng đặc trưng cho hội chứng hưng cảm từ lâu đ• được các tác giả mô tả [1]. Tỷ lệ các triệu chứng thời kỳ toàn phát giữa hai nhóm có loạn thần và không loạn thần khác nhau giữa hai nhóm: Có nhiều ý tưởng (77,8% và 71,4%), làm ồn ào náo nhiệt (71,1% và 47,6%), mua bán chi tiêu nhiều (62,2% và 57,1%), không có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm ở những triệu chứng này. Triệu chứng kém kiềm chế (53,3% và 23,8%), hành vi gây rối, bạo lực (26,7% và 14,3%), có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm hưng cảm có loạn thần và không có loạn thần. Những bệnh nhân ở giai đoạn này rất cần được phát hiện và điều trị sớm đồng thời cần được quản lý tốt để tránh gây nên những thiệt hại cho bản thân và những người xung quanh.

4.3.2.2. Các rối loạn loạn thần.

Trong số 45 bệnh nhân RLCXLC giai đoạn hưng cảm có các triệu chứng loạn thần (bảng 3.3) chúng tôi thấy 37 bệnh nhân (83,2%) có hoang tưởng tự cao, phát minh. Nội dung hoang tưởng thường phù hợp với khí sắc, cảm xúc, hành vi của bệnh nhân. Có 11 bệnh nhân (24,4%) có ảo thanh. Nội dung của ảo thanh chủ yếu là nghe thấy tiếng nói chiếm tỷ lệ 13,2%, 5/11 bệnh nhân có ảo thanh với nội dung khen ngợi, phù hợp với khí sắc, cảm xúc hưng phấn của bệnh nhân ở giai đoạn hưng cảm. Chúng tôi không thấy trường hợp nào có ảo thanh bình luận, sai khiến, hoang tưởng bị chi phối. Sự khác biệt này có thể là căn cứ để chẩn đoán phân biệt với bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn phân liệt cảm xúc loại hưng cảm.

4.3.2.3. Thời gian ổn định, mức độ hồi phục.

Thời gian ổn định có sự giảm dần giữa lần 1, lần 2 và lần 3 của cả hai nhóm RLCXLC giai đoạn hưng cảm có loạn thần và giai đoạn hưng cảm không có loạn thần. Có sự khác nhau giữa nhóm hưng cảm có loạn thần và hưng cảm không có loạn thần về thời gian ổn định giữa các cơn lần 1 (4,71 và 3,86 năm), lần 2 (3,71 và 3,42 năm), lần 3 (2,11 và 2,28 năm). Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.

 

4.4. Đặc điểm lâm sàng RLCXLC hiện tại giai đoạn trầm cảm.

4.4.1. Các biểu hiện khởi phát.

Từ kết quả trên chúng tôi nhận thấy dấu hiệu thường gặp nhất là sự giảm tập trung chú ý, biểu hiện sớm này gây ảnh hưởng không tốt đến công việc, dễ có nhầm lẫn, sai sót trong công việc. Tiếp theo là các biểu hiện buồn rầu, khí sắc giảm, mệt mỏi suy nhược, giảm hoạt động, ít giao tiếp. Các biểu hiện này thường xuất hiện từ từ và nặng dần trong khoảng 1 tuần, Goldman (2004) cũng có nhận định như vậy [6]. Như vậy, các biểu hiện trên có thể coi như những chỉ báo cho sự khởi đầu hoặc tái phát cho một giai đoạn trầm cảm trong RLCXLC.

4.4.2. Các triệu chứng ở giai đoạn toàn phát của giai đoạn trầm cảm.

Bảng 3.4 cho thấy 5/7 bệnh nhân có khí sắc trầm, 5/7 bệnh nhân có triệu chứng mệt mỏi giảm quan tâm thích thú và 6/7 bệnh nhân có biểu hiện giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi. Điều này phù hợp với chẩn đoán của tất cả 7 bệnh nhân nghiên cứu thuộc mã F31.3 là RLCXLC giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa. Rối loạn giấc ngủ với đặc điểm là mất ngủ gần như hoàn toàn, một số bệnh nhân không ngủ được nhiều đêm liền, nếu ngủ được thì chỉ ngủ một giấc ngủ ngắn và ngủ nông, dễ tỉnh giấc, khi thức dậy bệnh nhân thấy mệt mỏi rã rời và không muốn vận động, làm việc gì cũng thấy mệt mỏi. Các triệu chứng phổ biến cũng được thấy ở bệnh nhân RLCXLC giai đoạn trầm cảm nhưng với tỷ lệ thấp hơn, dấu hiệu bi quan về tương lai, ý tưởng không xứng đáng gặp 3/7 bệnh nhân, đây là triệu chứng rất cần được chú ý trên lâm sàng vì liên quan đến ý tưởng và hành vi tự sát của người bệnh trong giai đoạn trầm cảm.

4.5. Các yếu tố liên quan đến tái phát bệnh và tiến triển của bệnh.

4.5.1. Thời gian ổn định theo thể bệnh.

Thời gian ổn định giữa các thể có sự khác nhau: RLCXLC giai đoạn hưng cảm không có triệu chứng loạn thần, thời gian ổn định ở lần 1 là 5,95 năm trong khi giai đoạn hưng cảm có triệu chứng loạn thần là 5,04 năm và RLCXLC giai đoạn trầm cảm là 3,28 năm, tuy nhiên sự khác biệt này là không lớn. Điều này cho phép chúng ta rút ra nhận xét là thời gian ổn định giữa các cơn không phụ thuộc nhiều vào các thể bệnh của RLCXLC.

Tần số giữa các cơn ngày càng tăng và thời gian ổn định giữa các cơn càng ngày càng ngắn, dẫn đến một giai đoạn loạn khí sắc kéo dài gây tàn phế nặng nề cho người bệnh.

4.5.2. Các yếu tố liên quan tới tái phát bệnh ở giai đoạn nghiên cứu.

Học tập và làm việc căng thẳng là yếu tố liên quan đến tái phát bệnh thường gặp nhất chiếm 18,9% (biểu đồ 3.1). Các yếu tố này là áp lực công việc, do yêu cần đòi hỏi ngày càng cao trong công việc ở bất cứ ngành nghề nào, chính vì vậy mặc dù bệnh nhân vẫn cố gắng làm việc đến thời điểm nào đó sẽ bị quá tải làm cho bệnh dễ tái phát. áp lực do học tập cũng là một trong những yếu tố thuận lợi liên quan đến tái phát bệnh. Các yếu tố khác liên quan đến tái phát bệnh là bệnh lý cơ thể (5,4%), người thân mất (2,7%), những bệnh lý kèm theo mà chúng tôi tìm thấy ở những bệnh nhân này là bệnh Basedow, nhiễm trùng cấp.

Lạm dụng rượu chiếm 14,9% và chỉ gặp ở nam giới. Khi có rối loạn sử dụng chất ở bệnh nhân RLCXLC thì tiên lượng bệnh xấu hơn. Việc điều trị bệnh nhân có RLCXLC và rối loạn sử dụng chất hiện nay chưa được nghiên cứu nhiều, nhưng thuốc có hiệu quả là thuốc điều chỉnh khí sắc cũng làm giảm sử dụng chất trong một vài báo cáo [4] và cần phải được điều trị duy trì, trong đó thuốc chỉnh khí sắc có vai trò trong dự phòng tái phát bệnh.

4.5.3. Tiền sử gia đình có bệnh tâm thần.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 14 trường hợp (18,9%) có người thân trong gia đình (bố, mẹ, anh, chị, em) mắc các bệnh tâm thần trong đó 2 trường hợp rối loạn cảm xúc, 3 trường hợp TTPL và 9 trường hợp mắc các bệnh loạn thần khác. Đây là một tỷ lệ cao so với tỷ lệ này trong dân số. Một số nghiên cứu gần đây đưa ra tỷ lệ khoảng 40% đối với trẻ sinh đôi cùng trứng và dưới 10% đối với trẻ sinh đôi khác trứng (Kieseppa, 2004 và Cardno, 1999) [8], Craddock N; Davé S; Greening J. (2001) [5].

 

V. KẾT LUẬN

1. Đặc điểm lâm sàng rối loạn cảm xúc lưỡng cực:

Tuổi trung bình khởi phát rối loạn cảm xúc lưỡng cực trong nghiên cứu này là 25, 01 ± 10,06, trong đó tỷ lệ khởi phát trước 20 tuổi là đáng kể 40,5%. Số bệnh nhân mắc 4 cơn là 20,3%, mắc hai cơn chỉ gặp  13,5%, số bệnh nhân đã mắc trên 5 cơn chiếm tới 17,6%.

Các triệu chứng báo hiệu sớm khởi phát giai đoạn hưng cảm thường gặp là khó đi vào giấc ngủ 90,9%, tăng hoạt động 75,7%, tăng khí sắc 72,7%, cảm giác quá thoải mái, quá lạc quan 68,1%.

Giai đoạn toàn phát biểu hiện bằng các triệu chứng loạn thần trong đó chủ yếu là hoang tưởng tự cao 83,2%, nhiều ý tưởng 75,7%, gây ồn ào náo nhiệt là 63,6%, nói nhiều không cưỡng được 59,1%, can thiệp vào các công việc của người khác chiếm 59,1%, mua bán chi tiêu không hợp lý 60,6%.

Các triệu chứng khởi phát RLCXLC giai đoạn trầm cảm thường biểu hiện khó tập trung chú ý 71,4%, mệt mỏi suy nhược 42,8%.

Giai đoạn toàn phát biểu hiện bằng giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi dẫn đến giảm hoạt động gặp 6/7 bệnh nhân (85,7%), khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú đều gặp 5/7 bệnh nhân (71,4%).

Các triệu chứng phổ biến cũng rất thường gặp: rối loạn giấc ngủ, giảm tập trung chú ý gặp 7/7 trường hợp (100%), giảm ngon miệng gặp 6/7 trường hợp (85,7%). Triệu chứng lo âu cũng rất thường thấy ở các bệnh nhân RLCXLC giai đoạn trầm cảm (5/7 bệnh nhân).

2. Các yếu tố liên quan tái phát bệnh.

Một số yếu tố liên quan đến tái phát: Học tập, làm việc căng thẳng thường gặp nhất chiếm 18,9%, bệnh nhân có người thân mắc bệnh tâm thần là 18,9%, lạm dụng rượu chiếm tỷ lệ 14,9%, bệnh lý cơ thể (5,4%), người thân mất (2,7%).

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Viết Nghị (2006),  “Rối loạn lưỡng cực”. Hội thảo chuyên đề chẩn đoán và điều trị rối loạn cảm xúc lưỡng cực năm 2006, Tr 3 - 5.

2. Nguyễn Viết Thiêm; Lã Thị Bưởi (2001), “Rối loạn cảm xúc”, Bài giảng dành cho sau Đại học - Bộ môn Tâm thần - Đại học Y Hà Nội, Tr 51 - 75.

3. Trịnh Ngọc Tuân, Trần Viết Nghị và cộng sự (2002), “Cơ cấu bệnh lý ở bệnh nhân nội trú viện sức khỏe tâm thần”. Công trình nghiên cứu khoa học 2001- 2002, Bệnh viện Bạch Mai. Tr 220 - 232.

4. Brown E.S. (2005), “Bipolar Disorder and Substance Abuse” Psychiatric clinics of north America: 28: P 415 - 425.

5. Craddock N; Davé S; Greening J. (2001) “Association studies of bipolar disorder” Munksgaard, 2001. Bipolar Disord 2001: 3: P 284 - 298.

6. Goldman (2004), “Depression and suicidality” Cecil Textbook of Medicine, 22nd edition W. B. Saunder Company. P 2213- 2216.

7. Lorente M.D. (2000), “Mood disorders”, Kelly;s Textbook of Internal Medicine, 4th edition. Lippincot Williams & Wilkins. P 247- 251.

8. Tohen. M; Angst. J (2002), “Epidemiology of Bipolar Disorder” Textbook in Psychiatric Epidemiology. Second edition. P 427- 440.

9. Tyrer. P; Tyrer. F (2002) “Public mental health” Oxford Textbook of Public health, 4th Edition. P 1310 - 1325

 
 

Đường đến bệnh viện

Thư viện ảnh

  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh

Bài hát truyền thống

Get the Flash Player to see this player.

Tra từ điển

 

Thông tin cần biết

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Liên kết website