tam trang | giam beo | thiet bi spa, thiet bi lam dep |
 
Tâm thần phân liệt Paranoid

Tóm tắt luận văn tốt nghiệp thạc sỹ y học

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM TỰ KHÁNG THỂ

Ở BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT THỂ PARANOID

TÁC GIẢ: ThS.BS. Trần Quyết Thắng.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ.

Bệnh Tâm thần phân liệt (Schizophrenia) là một bệnh loạn thần nặng, căn nguyên chưa rõ, có khuynh hướng tiến triển mạn tính, hay tái phát. Đây là bệnh khá phổ biến, theo Tổ chức Y tế Thế giới tỷ lệ người mắc bệnh tâm thần phân liệt  trên thế giới là 0,6-1,5% dân số, ở nước ta tỷ lệ này là 0,7%, trong đó thể Paranoid chiếm đến 65% tổng số bệnh nhân  tâm thần phân liệt. Bệnh chủ yếu khởi phát ở lứa tuổi trẻ từ 15-25 tuổi, là lứa tuổi học tập và lao động.

Về miễn dịch học lâm sàng trong bệnh tâm thần phân liệt, người ta đã có nhiều công trình nghiên cứu và lần lượt công bố cho những kết quả nhất định

Nhằm tìm hiểu sự xuất hiện, sự biến đổi tự kháng thể và mối liên quan giữa sự biến đổi đó với diễn biến lâm sàng và từ đó có thể đưa ra các nhận xét, đánh giá về lâm sàng, tiến triển của bệnh. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả xét nghiệm tự kháng thể ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid” nhằm các mục tiêu:

1 - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid.

2 - Khảo sát kết quả xét nghiệm tự kháng thể kháng nhân (ANA) và kháng chuỗi xoắn kép (anti ds-DNA) ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid.

3 - Bước đầu thăm dò mối liên quan giữa kết quả xét nghiệm tự kháng thể và các triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân nói trên.

2. ĐỐI TƯƠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

2.1. Đối tượng nghiên cứu.

Gồm 110 bệnh nhân được chẩn đoán là TTPL thể Paranoid vào điều trị nội trú tại bệnh viện Tâm thần Hà Nội từ tháng 6/2004 đến 6/2005.

Có 60 bệnh nhân được lấy ngẫu nhiên trong số 110 bệnh nhân nói trên để làm xét nghiệm tự kháng thể.

Tuổi trung bình 32,12 ± 7,14.

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân nghiên cứu.

Các bệnh nhân được chẩn đoán là TTPL thể Paranoid  theo tiêu chuẩn  của Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) về các rối loạn tâm thần và hành vi của WHO năm 1992, mục F20.0.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ.

- Loại trừ các bệnh nhân TTPL mắc các bệnh nội khoa kèm theo như: lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp…

2.1.3. Tiêu chuẩn chọn nhóm chứng.

Gồm 30 người khoẻ mạnh, để làm xét nghiệm tự kháng thể ANA và anti ds-DNA.

2.2. Phương pháp nghiên cứu.

Tất cả các bệnh nhân được tiến hành nghiên cứu theo phương pháp tiến cứu. Cụ thể là:

2.2.1. Phương pháp khám lâm sàng.

2.2.3. Phương pháp xét nghiệm tự kháng thể.

Xác định các tự kháng thể kháng chuỗi xoắn kép DNA (Anti ds-DNA) và kháng thể kháng nhân (ANA) trong huyết thanh.

Đối tượng xét nghiệm gồm có 60 bệnh nhân lấy ngẫu nhiên trong số 110 bệnh nhân nghiên cứu và 30 người khoẻ mạnh làm nhóm chứng.

Trung tâm tiến hành xét nghiệm: Labo miễn dịch Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương.

Kỹ thuật xét nghiệm:

Phương pháp nhuộm mầu miễn dịch huỳnh quang gián tiếp với các tiêu bản gắn tế bào biểu mô người (Hep - 2) và chủng trùng roi Crithidia luciliae.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1.  Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu.

Tuổi trung bình nhóm bệnh nhân nghiên cứu 32,12 ± 7,14.

Đa số bệnh nhân ở nhóm tuổi 20 - 39, có 81 trường hợp chiếm 73,63%

So sánh các tỷ lệ trên có sự khác biệt và có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Tiền sử gia đình có người mắc bệnh tâm thần chiếm tỷ lệ 22,73%

3.2. Đặc điểm lâm sàng của nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

Đặc điểm thời gian mang bệnh.

Đa số bệnh nhân mang bệnh dưới 10 năm chiếm tỷ lệ 75,45%, thời gian mang bệnh trên 15 năm chỉ chiếm 8,17%.

Thời gian mang bệnh trung bình cho cả hai giới là 7,06 năm độ lệnh chuẩn 5,58 năm, với nữ là 6,91 năm độ lệch chuẩn là  4,65 năm và nam là 7,22 năm độ lệch chuẩn là 6,36 năm.

Bảng 3.1. Đặc điểm tuổi khởi phát.

Bệnh nhân

Tuổi

N

Tỷ lệ %

p

£ 20

28

25,45

> 0,05

21 – 25

37

33,64

26 – 30

24

21,82

31 – 35

14

12,73

> 0,05

36 – 40

6

5,45

> 40

1

0,91

Tổng số

110

100,00

Đa số bệnh nhân khởi phát bệnh 16 - 30 tuổi chiếm 80,91%

Tỷ lệ khởi phát trước 30 tuổi cao hơn so với nhóm khởi phát sau 30 tuổi có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.

Tuổi khởi phát trung bình tính chung cho cả hai giới là 25,06 với độ lệnh chuẩn là  4,95 năm, ở nam trung bình là 24,74 với độ lệnh chuẩn là 4,91, ở nữ trung bình là 25,45 với độ lệch chuẩn là 4,89.

Bảng 3.2. Đặc điểm ảo giác.

 

Bệnh nhân

Ảo giác

N

Tỷ lệ %

p

Có ảo giác

1 loại ảo giác

68

61,82

< 0,05

2 loại ảo giác

24

21,82

≥ 3 loại ảo giác

2

1,82

Không có ảo giác

16

14,54

< 0,01

Tổng số

110

100,00

 

Đa số bệnh nhân có ảo giác chiếm tỷ lệ 85,46%, chỉ có 14,54% số  bệnh nhân không có ảo giác.

Bảng 3.3. Các ảo giác thường gặp.

STT

Bệnh nhân

Ảo giác

n

Tỷ lệ %

p

1

Ảo thanh bình phẩm

51

46,36

p6-1< 0,01

2

Ảo thanh đàm thoại

38

34,55

p1-2> 0,05

3

Ảo thanh thô sơ

29

26,36

p2-3> 0,05

4

Ảo khứu giác

4

3,64

p3-4< 0,05

5

Ảo thị giác

1

0,91

p4-5> 0,05

6

Ảo vị giác

1

0,91

p5-6> 0,05

Trong các loại ảo giác thì  ảo thanh chiếm tới 94,54%. Ảo thị, ảo vị ít gặp nhất chiếm 0,91%.

Ảo thanh đa số là có nội dung chiếm tới 80,91%, ảo thanh thô sơ chiếm 26,36%.

Trong số ảo thanh  thì ảo thanh bình phẩm nhiều nhất có tỷ lệ 46,36%.

Bảng 3.4. Các hoang tưởng thường gặp.

Bệnh nhân

Hoang tưởng

n = 110

Tỷ lệ %

Bị hại

89

80,91

Theo dõi

12

10,91

Liên hệ

9

8,18

Bị chi phối

23

20,91

Ghen tuông

9

8,18

Tự buộc tội

5

4,55

Nghi bệnh

6

5,45

Tự cao

24

21,82

Phát minh

2

1,82

Được yêu

4

3,64

Nhận nhầm

12

10,91

Biến hình

2

1,82

Kỳ quái

5

4,55

Tất cả 100% bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu đều có hoang tưởng.

Tỷ lệ hoang tưởng bị hại gặp nhiều nhất, có 80,91% số bệnh nhân có hoang tưởng bị hại, sau đó là hoang tưởng tự cao 21,82% bệnh nhân.

Hoang tưởng biến hình bản thân và hoang tưởng phát minh ít gặp nhất chiếm 1,82%.

Đa số bệnh nhân có hai loại hoang tưởng chiếm tỷ lệ 55,45%, có 31,82% số bệnh nhân có một loại  hoang tưởng, chỉ 12,73% số bệnh nhân có từ ba loại hoang tưởng trở lên.

Đa số các hoang tưởng tồn tại liên tục, chiếm 93,64%. Chỉ có 6,36% số hoang tưởng tồn tại không liên tục.

Phần lớn trên các bệnh nhân có phối hợp phức tạp 1 hoặc nhiều loại hoang tưởng với các loại ảo giác với nhau chiếm tỷ lệ 60,91%.

Bảng 3.5. Đặc điểm rối loạn cảm xúc

Bệnh nhân

Cảm xúc

n = 110

Tỷ lệ %

p

Hưng cảm

24

21,82

< 0,05

Trầm cảm

47

42,73

Vô cảm

11

10,00

Không thích hợp

68

61,82

Hai chiều trái ngược

48

43,64

Triệu chứng cảm xúc không thích hợp gặp nhiều nhất, 61,82% số bệnh nhân có triệu chứng này, tiếp theo là triệu chứng cảm xúc hai chiều trái ngược gặp ở 43,64% số bệnh nhân.

3.3. Kết quả xét nghiệm tự kháng thể trong máu.

Xét nghiệm tự kháng thể kháng chuỗi xoắn kép DNA (anti ds-DNA)  ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu và nhóm chứng đều cho kết quả âm tính (-).

Bảng 3.6. Kết quả xét nghiệm tự kháng thể kháng nhân (ANA) trong máu.

Đối tượng

ANA

Bệnh nhân

Nhóm chứng

p

n

Tỷ lệ %

n

Tỷ lệ %

Dương tính

17

28,33

2

6,67

< 0,05

Âm tính

43

71,67

28

93,33

Tổng số

60

100,00

30

100,00

Trong xét nghiệm tìm tự kháng thể kháng nhân (ANA) thì 28,33% số bệnh nhân nghiên cứu cho kết quả dương tính. Chỉ có 6,67% số nhóm đối chứng có kết quả dương tính.

Sự khác biệt về tỷ lệ ANA dương tính ở nhóm bệnh nhân và nhóm đối chứng có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.7. Mối liên quan kết quả xét nghiệm tự kháng thể kháng nhân (ANA) và tuổi khởi phát.

ANA

Tuổi khởi phát

Dương tính

Âm tính

p

n

Tỷ lệ %

n

Tỷ lệ %

£ 20

6

35,29

11

25,58

<0,05

21 – 25

7

41,18

15

34,88

26 – 30

4

23,53

11

25,58

> 30

0

0,00

6

13,96

Tổng số

17

100,00

43

100,00

Có 41,18% bệnh nhân ANA dương tính có tuổi khởi phát 21-25 tuổi, ít nhất là nhóm bệnh nhân ANA dương tính có tuổi khởi phát 26-30 chiếm tỷ lệ  23,53%.

Bảng 3.8. Mối liên quan kết quả xét nghiệm tự kháng thể kháng nhân (ANA) và ảo giác.

ANA

Ảo giác

Dương tính

Âm tính

n

Tỷ lệ %

n

Tỷ lệ %

Không ảo giác

0

0,00

7

16,28

1 loại ảo giác

11

64,71

22

51,16

2 loại ảo giác

5

29,41

13

30,23

≥ 3 loại ảo giác

1

5,88

1

2,33

Tổng số

17

100,00

43

100,00

Có 64,71% số bệnh nhân ANA dương tính có một loại ảo giác, tiếp theo là nhóm ANA dương tính có hai loại ảo giác chiếm 29,41%.

Tất cả các bệnh nhân ANA dương tính đều có triệu chứng ảo giác.

Bảng 3.9. Mối liên quan kết quả xét nghiệm tự kháng thể kháng nhân (ANA) và hoang tưởng.

ANA

Hoang tưởng

Dương tính

Âm tính

p

n

Tỷ lệ %

n

Tỷ lệ %

1 loại hoang tưởng

5

29,41

15

34,88

>0,05

2 loại hoang tưởng

8

47,06

20

46,51

≥ 3 loại hoang tưởng

4

23,53

8

18,61

Tổng số

17

100,00

43

100,00

Có 47,06% số bệnh nhân ANA dương tính thì trên lâm sàng có hai loại hoang tưởng và 46,51% số bệnh nhân ANA âm tính có hai loại hoang tưởng.

 

4. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu.

Từ kết quả nghiên cứu phù hợp với các tài liệu y văn các tác giả đã nhận định: bệnh TTPL gặp chủ yếu ở lứa tuổi trẻ, lứa tuổi học tập lao động, tiến triển mãn tính [7],[21].

Tỷ lệ có yếu tố di truyền theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của tác giả Trần Viết Nghị là 21,7% bệnh nhân TTPL có ít nhất một người thân bị bệnh.

Theo IPSS cũng như nghiên cứu tiên lượng bệnh TTPL của TCYTTG, 26% số bệnh nhân TTPL có ít nhất một người thân cấp I mắc bệnh TTPL

4.2. Đặc điểm lâm sàng của nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi không có sự khác biệt so với công bố của Folnegovic, tuổi khởi phát trung bình của bệnh nhân TTPL là 24,8 tuổi,

Theo ICD - 10 và DSM - IV tuyệt đại đa số các trường hợp TTPL khởi phát ở độ tuổi 15 - 44, kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với số liệu trên.

4.2.1. Đặc điểm của ảo giác.

Theo kết quả bảng 3.2, thấy 94 bệnh nhân (85,46%) có triệu chứng ảo giác trên lâm sàng, chỉ có 16 bệnh nhân (14,54%) không có ảo giác.

Bảng 3.3 cho thấy 46,36% số bệnh nhân có ảo thanh bình phẩm, 34,55% số bệnh nhân có ảo thanh đàm thoại, ảo thanh thô sơ chiếm 26,36%, kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tuấn ảo thanh chiếm 92,5%.

Ta thấy ảo thanh xuất phát từ một bộ phận trong cơ thể (trong đầu) gặp ở 81,91% bệnh nhân, chúng tôi không gặp ảo thanh phát ra từ vị trí khác của cơ thể như trong bụng, ngực, chân tay,...

4.2.2. Đặc điểm của hoang tưởng.

Từ kết quả bảng 3.4 thấy hoang tưởng bị hại gặp nhiều nhất có tỷ lệ 80,91%, hoang tưởng tự cao và hoang tưởng bị chi phối khoảng 21%, ít gặp nhất là hoang tưởng phát minh và hoang tưởng biến hình bản thân chiếm 1,82% số bệnh nhân. Tỷ lệ hoang tưởng bị hại nhiều hơn so với các loại hoang tưởng khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).

Như vậy theo nghiên cứu của chúng tôi, đa số các bệnh nhân là có sự phối hợp hoang tưởng và ảo giác, và chủ yếu là phối hợp phức tạp như 1 hoang tưởng với nhiều ảo giác hoặc 2 hoang tưởng với nhiều ảo giác.

4.2.3. Đặc điểm rối loạn cảm xúc.

Trong nhóm nghiên cứu cảm xúc không thích hợp và hai chiều trái ngược gặp với tỷ lệ tương đối cao, kết quả này phù hợp với các tài liệu y văn đã nêu.

Hội chứng trầm cảm gặp với tỷ lệ 42,73%, đặc điểm của hội chứng trầm cảm trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi là chủ yếu gặp trầm cảm nhẹ, do các hoang tưởng ảo giác chi phối, thường thấy ở những bệnh nhân có hoang tưởng bị hại, tự buộc tội.

4.3. Kết quả xét nghiệm tự kháng thể trong máu.

4.3.1. Đặc điểm kết quả xét nghiệm tự kháng thể.

Kết nghiên cứu cho thấy 100% nhóm bệnh nhân và nhóm chứng đều có kết quả xét nghiệm tìm tự kháng thể kháng DNA (anti-ds DNA) âm tính.

Theo tác giả Koliaskina G.I. (2004) các chỉ số miễn dịch tăng rõ rệt ở bệnh nhân trong giai đoạn cấp trước khi điều trị, sau liệu pháp hoá dược nồng  độ các thông số này giảm.

Kết quả bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ kháng thể kháng nhân (ANA) dương tính ở nhóm bệnh nhân (28,33) cao hơn so với nhóm chứng (6,67%) có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của tác giả Spivak B.(1995), tỷ lệ tự kháng thể kháng nhân (ANA) dương tính ở bệnh nhân TTPL (gần 20%) cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng (5%).

4.3.2. Mối liên quan kết quả xét nghiệm kháng thể kháng nhân (ANA) và tuổi, giới, thời gian mang bệnh.

Theo bảng 3.7 có 41,18% bệnh nhân ANA (+) khởi phát trong độ tuổi 21-25 chiếm tỷ lệ cao nhất, có 35,29% bệnh nhân ANA (+) khởi phát trong độ tuổi 16-20, ít gặp nhất là bệnh nhân ANA (+) khởi phát sau 20 tuổi chiếm 23,53%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có khác so nghiên cứu của tác giả Spivak B. (1995) kháng thể kháng nhân ANA(+) ở bệnh nhân TTPL cao hơn nhóm chứng bất kể tuổi, tuổi khởi phát.

4.3.3. Mối liên quan kết quả xét nghiệm kháng thể kháng nhân (ANA) và các triệu chứng loạn thần.

Có 64,71% bệnh nhân ANA dương tính có một loại ảo giác, tiếp theo là nhóm ANA dương tính có hai loại ảo giác chiếm 29,41%, ít gặp nhất là nhóm ANA dương tính có nhiều hơn ba loại ảo giác chiếm 5,88%. Sự khác biệt về các tỷ lệ nhóm ảo giác ở kết quả xét nghiệm ANA không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Theo kết quả bảng 3.9 có 47,06% số bệnh nhân ANA dương tính trên lâm sàng có hai loại hoang tưởng. Ít nhất là nhóm bệnh nhân ANA dương tính có hơn ba loại hoang tưởng, chiếm tỷ lệ 23,53%. Sự khác biệt về tỷ lệ các nhóm hoang tưởng giữa xét nghiệm ANA dương tính  và âm tính không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Zakharenko O.M. (1998), những bà mẹ có con bị rối loạn tâm thần đều có kết quả xét nghiệm ANA (+) tăng cao không phụ thuộc vào tình trạng rối loạn tâm thần của họ.

5. KẾT LUẬN

5.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân nghiên cứu.

- Bệnh nhân có triệu chứng ảo giác là 85,46%, trong đó có 61,82% bệnh nhân có 1 loại ảo giác. Các loại ảo giác hay gặp là ảo thanh bình phẩm (46,36%), ảo thanh đàm thoại (34,55%).

- Bệnh nhân có suy luận bệnh lý là 54,55% và nói một mình là 53,64%. Tất cả bệnh nhân nghiên cứu đều có hoang tưởng, hoang tưởng bị hại thường gặp nhất (80,91%) và phổ biến nhất là có 2 loại hoang tưởng trên cùng một bệnh nhân (55,45%). Số bệnh nhân có hoang tưởng phối hợp với ảo giác chiếm tỷ lệ là 85,41%.

5.2. Kết quả xét nghiệm tự kháng thể trong huyết thanh bệnh nhân TTPL.

- Xét nghiệm tự kháng thể kháng chuỗi xoắn kép DNA: 100% bệnh nhân và nhóm chứng đều cho kết quả tự kháng thể kháng chuỗi xoắn kép DNA là âm tính.

- Xét nghiệm tự kháng thể kháng nhân: nhóm bệnh nhân có 28,33% kháng thể kháng nhân dương tính cao hơn so với nhóm chứng (6,67%) có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

5.3. Mối liên quan giữa xét nghiệm tự kháng thể và các triệu chứng bệnh.

- Kết quả xét nghiệm tự kháng thể kháng nhân liên quan với giới tính ở thang dương tính cũng như âm tính không có sự khác biệt đáng kể. Nữ giới dương tính 32,43%; âm tính  67,57% và nam giới dương tính 28,33%; âm tính 71,67%.

- Tỷ lệ tự kháng thể kháng nhân dương tính giảm dần theo thời gian mắc bệnh và có ý nghĩa thống kê với p <0,01.

- Tỷ lệ tự kháng thể kháng nhân dương tính ở các nhóm tuổi khởi phát khác nhau có sự khác biệt đáng kể và có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

- Tỷ lệ tự kháng thể kháng nhân dương tính không phụ thuộc vào các triệu chứng ảo giác và hoang tưởng của bệnh nhân.

6.TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 - Frabrice Duval (2003), “Sinh học  thần kinh về các rối loạn nhận thức trong bệnh tâm thần phân liệt”, Tổng hợp báo cáo các hội nghị khoa học, Servier. Trang 54 - 57.

2 - Kebicop (1980) - Tâm thần học,  NXB Mir - Matxcơva, NXB Y học Hà Nội. Trang 242 - 263.

3 - Nguyễn Văn Ngân, Ngô Ngọc Tản (2003), “Nguyên nhân các bệnh tâm thần”, Tâm thần học đại cương và điều trị các bệnh tâm thần,  NXB Quân đội Nhân dân. Trang 2 - 22.

4 - Trần Đình Xiêm (1997), Tâm thần học, Trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh.

5 - American Psychiatric Association (1994), Diaynostic and Statistical manual of mental disorders, Fourth edition, pp 325 - 341.

6 - Kaplan H.I., Sadock B.J., (1994), Synopsis of psychiatry, lippicott Williams & Wilkins, USA.

7 - Kliushink T.P., Danilovskaya E.V., Vatolkina O.E. et al (1999), “Changes in the serum levels of autoantibody to nerve growth factor in patients with Schizophrenia”, Newrosci behar Physiol, 1999 May-Jun, 29(3):355-7.

8 - Spivak B., Radwan M., Bartur P. et al (1995), “Antinuclear auto-antibodies in chronic schizophrenia”, Ness Ziona Government Psychiatric Hospital, Israel, Acta Psychiatr Scand, 1995 Oct; 92(4):  266-9.

9 - Tanakan S., Matsunaga H., Kimura M. et al (2003), “Autoantibodies against four kindr of nuerotransmitter receptors in psychiatric disorders”,  J Neuroimmunol 2003 Aug; 141(1-2):155-64.

 
 

Đường đến bệnh viện

Thư viện ảnh

  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh
  • Thư viện ảnh

Bài hát truyền thống



Get the Flash Player to see this player.

Tra từ điển

 

Thông tin cần biết

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Liên kết website